Thứ tư, 27/10/2021
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Thực trạng quản lý sử dụng kháng sinh của ba bệnh viện tại tỉnh Khánh Hòa, 2020
Niềm tin vào thuốc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2020
Thực trạng tử vong do bệnh dại ở người tại khu vực Tây Nguyên, giai đoạn 2016 – 2020
Trang: 201
Tập XXV, số 8 (168) 2015 Số đặc biệt

Một số đặc điểm bệnh lý và dịch tễ học của viêm phổi liên quan đến thở máy ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2012

Some epidemiological features of ventilator-associated pneumonia in newborn at the National Hospital of Pediatrics, 2012
Tác giả: Lê Kiến Ngãi, Khu Thị Khánh Dung, Phạm Ngọc Đính
Tóm tắt:
Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu nhằm: mô tả một số đặc điểm bệnh lý lúc sinh và lúc nhập viện; mô tả một số đặc điểm dịch tễ; xác định tỷ lệ tử vong, một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh mắc Viêm phổi liên quan đến thở máy. Kết quả: Có 159 đợt viêm phổi liên quan đến thở máy/151 trẻ bệnh. Tỷ lệ mới mắc 25,1% cao nhất vào tháng 2; tỷ suất mật độ mới mắc 31,7/1000 ngày thở máy, cao nhất vào tháng 8. Ở trẻ thở máy kéo dài >15 ngày tỷ lệ mới mắc là 70%; tỷ suất mật độ mới mắc 50,3/1000 ngày thở máy. Gần 60% trẻ viêm phổi liên quan đến thở máy có cân nặng lúc sinh/cân nặng lúc nhập viện < 2000 gram; 40% <1500 gram. 78,2% trẻ viêm phổi liên quan đến thở máy có tuổi thai ≤ 37 tuần. 21,9% trẻ bị ngạt; 29,8% khóc yếu lúc sinh. Lý do nhập viện chủ yếu là sinh non và/hoặc có suy hô hấp. Tỷ lệ tử vong ở trẻ iêm phổi liên quan đến thở máy là 66,9% khác biệt có ý nghĩa với nhóm không viêm phổi liên quan đến thở máy. Tỷ lệ tử vong không khác biệt giữa iêm phổi liên quan đến thở máy xuất hiện sớm (≤ 5 ngày) và viêm phổi liên quan đến thở máy xuất hiện muộn (> 5 ngày). Trẻ thường tử vong ở tuần thứ ba sau khi xuất hiện viêm phổi liên quan đến thở máy. Kết luận: Phần lớn trẻ sơ sinh viêm phổi liên quan đến thở máy là trẻ sinh non (tuổi thai < 37 tuần) và cân nặng thấp (<2000 gram). Hơn một nửa ngạt hoặc khóc yếu lúc sinh. Nguy cơ mắc viêm phổi liên quan đến thở máy ở trẻ sơ sinh bệnh nặng phải thở máy cao. Tỷ lệ mắc có xu hướng cao ở đầu năm và thấp hơn ở 3 tháng cuối năm. Trẻ sơ sinh đã mắc viêm phổi liên quan đến thở máy có nguy cơ tử vong như nhau cho dù viêm phổi liên quan đến thở máy xuất hiện sớm hay muộn. Tỷ lệ tử vong của viêm phổi liên quan đến thở máy sơ sinh cao và viêm phổi liên quan đến thở máy là yếu tố liên quan đến tử vong ở trẻ sơ sinh bệnh nặng. Thời gian sống thêm của trẻ sơ sinh mắc viêm phổi liên quan đến thở máy đã dài hơn, tỷ lệ tử vong chưa giảm
Summary:
A prospective cohort study was conducted at the Neonatal Intensive Care Unit (NICU), National Hospital of Pediatrics (NHP) to describe status of the babies who later suffered from ventilator-associated pneumonia (VAP) at birth, and initial diagnosis on admission; to identify epidemiological characteristics of VAP in newborn; and to determine the mortality and related factors. Results: 159 episodes of VAP in 151 baby. VAP incidence rate (IR) was 25.1%, highest in February; incidence density ratio (IDR) was 31.7/1,000 ventilator days, highest in August. In babies with prolonged MV of > 15 days, the IR was 70% and the IDR was 50.3/1,000 ventilator days. Nearly 60% VAP’s babies had their birth weight (BW) or admission weight (AW) < 2,000 grams, of which 40% <1500 grams; 78.2% had their gestational age (GA) ≤ 37 weeks. 21.9% had asphyxia; 29.8% had weak cry at birth. The main reason for hospitalization was preterm birth and/or respiratory failure. The mortality rate (MR) among VAP cases was 66.9% and significantly different from Non-VAP group. MR was not significantly different between early VAP (≤ 5 days) and late VAP (> 5 days). Severe VAP babies were often died in the third week after VAP happened. Conclusions: Most babies with VAP in this study were preterm (GA <37 weeks) with low BW (<2000 g). More than half had asphyxia or weak cry at birth. Sick newborns under MV were at high risk to develop VAP. The IR and IDR tended to be high in the beginning and less in the last 3 months of the year. Newborns with VAP had a high risk of death, whether VAP occurred earlier or later. The survival time of neonates with VAP was longer, but MR had not been reduced.
Từ khóa:
Viêm phổi liên quan đến thở máy (VPTM), sơ sinh, dịch tễ
Keywords:
ventilator associated pneumonia (VAP), newborn, epidemiology
File nội dung:
O158201.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
CHÚC MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, xin kính chúc các đồng nghiệp, chuyên gia bình duyệt và thành viên Ban Biên tập mạnh khỏe, thành công và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Báo chí. GS.TS Đặng Đức Anh (Tổng Biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log