Thứ tư, 27/10/2021
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Thực trạng quản lý sử dụng kháng sinh của ba bệnh viện tại tỉnh Khánh Hòa, 2020
Niềm tin vào thuốc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2020
Thực trạng tử vong do bệnh dại ở người tại khu vực Tây Nguyên, giai đoạn 2016 – 2020
Trang: 531
Tập XXV, số 8 (168) 2015 Số đặc biệt

Thực trạng bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em – kế hoạch hóa gia đình và một số yếu tố liên quan tại huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2014

Gender equality situation in the health care of mothers and children - family planning and some related factors in Quynh Phu district, Thai Binh 2014
Tác giả: Phan Thu Nga, Nguyễn Đức Thanh
Tóm tắt:
Nghiên cứu cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 436 phụ nữ độ tuổi 15 – 49 có chồng hiện đang nuôi con dưới 5 tuổi sống tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình nhằm mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em – kế hoạch hóa gia đình (CSSKBMTE-KHHGĐ). Kết quả nghiên cứu cho thấytỷ lệ phụ nữ quyết định cùng chồng về mong muốn sinh con lần gần đây là 92,9% và về sử dụng biện pháp tránh thai là 63,8%. Trong lần có thai và sinh con gần nhất, có 79,6% được chồng đưa đi khám thai, 85,1% người chồng đưa vợ đi sinh, 41,3% người chồng nghỉ làm để chăm sóc vợ khi sinh. Phần lớn phụ nữ (92,9%) hài lòng với sự tham gia của chồng trong lĩnh vực CSSKBMTE–KHHGĐ. Người chồng là trụ cột kinh tế có xu hướng đưa vợ đi khám thai cao hơn gấp 2,5 lần, đưa vợ đi sinh cao gấp 3,1 lần so với những gia đình có vợ là trụ cột kinh tế,p<0,05. Những cặp vợ chồng đồng nhất quan điểm có xu hướng số người vợ cùng chồng quyết định có sử dụng biện pháp tránh thai cao hơn 2,8 lần so với những cặp vợ chồng không đồng nhất quan điểm. Kết quả trên cho thấy việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực CSSKBMTE– KHHGĐ có nhiều bước tiến đáng kể.
Summary:
Across-sectional study via direct interviews of 436 married women aged 15-49 currently raising children under age 5 and living in towns and rural communes of Quynh Phu district, Thai Binh province to describe the actual situation and identify some factors related to the gender equality in the mother and child health care - family planning (FP). Study results showed that 92.9% of women discussed with their husbands when they wanted to have baby in their last pregnancy, and 79.6% of them were accompanied by their husband for antenatal care in that pregnancy. 85.1% of the husbands accompanied their wives in the last delivery, 41.3% of the husbands were off work to care their wives after the delivery. 63.8% of women discussed with their husbands for the use of contraceptives. Most of the women (92.9%) were satisfied with the participation of their husbands in the mother and child health care - FP. The rate of the husbands who arekey persons in doing economics tended to take their wives for antennal care and accompany the wife to delivery wasrespectively 2.5 and 3.1 times higher than that of the husbands whose wives are key persons in dong economics, p<0.05. Among the heterogeneous couples, the rate of the wives discussed with their husbands forcontraceptive use was 2.8 times higher than that of the others. Study results showed that the gender equality in mother and child health care – FP should be improved.
Từ khóa:
Bình đẳng giới, sức khỏe bà mẹ - trẻ em
Keywords:
Gender equality, mother and child health care.
File nội dung:
O158531.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
CHÚC MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, xin kính chúc các đồng nghiệp, chuyên gia bình duyệt và thành viên Ban Biên tập mạnh khỏe, thành công và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Báo chí. GS.TS Đặng Đức Anh (Tổng Biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log