Thứ tư, 27/10/2021
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Thực trạng quản lý sử dụng kháng sinh của ba bệnh viện tại tỉnh Khánh Hòa, 2020
Niềm tin vào thuốc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2020
Thực trạng tử vong do bệnh dại ở người tại khu vực Tây Nguyên, giai đoạn 2016 – 2020
Trang: 65
Tập XXV, số 11 (171) 2015

Nguy cơ trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở một số khối sinh viên đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng, năm 2015

Risk of depression and some risk factors in selected medical students of Hai Phong University of Medicine and Pharmacy, 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm, Phan Lê Thu Hằng, Nguyễn Hoàng Việt Đức, Nguyễn Khắc Minh, Phạm Văn Hán
Tóm tắt:
Để xác định tỷ lệ nguy cơ trầm cảm và một số yếu liên quan của sinh viên y đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2014-2015. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang, 322 sinh viên y đa khoa năm 2, năm 4 và năm 6 được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng tham gia trả lời phiếu hỏi đánh giá nguy cơ trầm cảm và một số yếu tố liên quan theo thang đo CES-D20 của Radoloff. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nguy cơ trầm cảm của sinh viên là 46,9%. Nguy cơ trầm cảm của nam (51,6%) cao hơn nữ (40,2%). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 giữa trầm cảm và sống tại ký túc xá (OR=9,57), sống ở nhà trọ (OR=6,73), tài chính không đủ (OR=20), khó khăn tìm bạn mới (OR=2,79), khó khăn trong tham gia hoạt động xã hội (OR=2,51), tăng áp lực học tập (OR=3,91), bỏ nhiều tiết học (OR=2,21). Tỷ lệ nguy cơ trầm cảm của sinh viên là 46,9%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nguy cơ trầm cảm và giới tính, khối học, nơi sống, mối quan hệ với bạn bè, áp lực học tập.
Summary:
To determine the prevalence of risk of depression and to describe some risk factors in medical students of Haiphong University of Medicine and Pharmacy. We studied descriptive cross-sectional, 322 medical students at the 2nd, 4th and 6th year were selected using stratified random sampling, answering questionnaires assessing the risk of depression and some related factors applying the scale CES-D20 of Radoloff. The results showed that the prevalence of risk of depression of medical students is 46.9%, and male was higher than female students (51% and 40%). There were statistically significant difference p<0.05 between risk of depression in students living in dormitory (OR=9.57) compared to those lived in motel (OR=6.73), or lived with finacial difficulties (OR=20), difficult to find new friends (OR=2,79), limited access to social activities (OR=2.51), pressure of study (OR=3.91), off school without reason (OR=2.21).The prevalence of risk of depression in medical students of HPMU was 46.9%. There was association between risk of depression and gender, school year, accommodation, relationships with friends, academic pressure.
Từ khóa:
Nguy cơ trầm cảm, sinh viên y, trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Keywords:
Risk of depression, medical student, Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
File nội dung:
O151165.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
CHÚC MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, xin kính chúc các đồng nghiệp, chuyên gia bình duyệt và thành viên Ban Biên tập mạnh khỏe, thành công và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Báo chí. GS.TS Đặng Đức Anh (Tổng Biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log