Thứ bẩy, 22/07/2017
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Tỷ lệ nhiễm HIV và nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam tiêm chích ma túy tại Thái Nguyên, năm 2014
Thực trạng và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh Điện Biên năm 2016
Thực trạng nhiễm trùng đường sinh sản ở nữ công nhân hiếm muộn tại khu công nghiệp Phúc Điền, tỉnh Hải Dương năm 2016
ads
Trang: 194
Tập 27, số 3 2017

Tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân AIDS đang được điều trị tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương, năm 2016

ARV treatment adherence and related factors among AIDS patients managed and treated at the provincial AIDS center in Hai Duong, in 2016
Tác giả: Phan Thị Thu Hương
Tóm tắt:
Quá trình điều trị ARV là rất phức tạp, đòi hỏi sự phải tuân thủ điều trị (TTĐT) nghiêm ngặt về thời gian, liều lượng, cách dùng thuốc ARV để hạn chế sự nhân lên và đột biến kháng thuốc của vi rút HIV. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện để đo lường tuân thủ điều trị ARV và xác định các yếu tố liên quan trên 250 bệnh nhân AIDS đang được quản lý và điều trị tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương năm 2016. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân TTĐT còn thấp (60,4%). Bệnh nhân Nữ giới có xu hướng tuân thủ điều trị cao hơn nam giới (OR =1,6; 95% CI: 1,09 – 3,40). Những người không phải đi làm xa nhà có xu hướng tuân thủ điều trị cao hơn những người phải đi xa nhà (OR = 1,80; 95% CI: 1,21-3,42). Bệnh nhân không sử dụng rượu bia trong tuần tuân thủ điều trị cao hơn so với những bệnh nhân có sử dụng (OR = 2,57; 95% CI: 1,42-4,45). Những bệnh nhân có người nhà hỗ trợ tích cực tuân thủ điều trị cao hơn người không có sự hỗ trợ từ người nhà (OR = 7,8; 95%CI: 1,90-63,5). Bệnh nhân có sử dụng biện pháp nhắc uống thuốc có khả năng tuân thủ điều trị cao hơn bệnh nhân tự nhớ (OR = 1,50; 95%CI: 1,12-3,12). Chương trình điều trị ARV cần chú trọng công tác tư vấn về TTĐT và các biện pháp hỗ trợ cho các đối tượng bệnh nhân AIDS để cải thiện việc TTĐT.
Summary:
ARV process is complicated and requires good adherence on timing, dosage, administering method to reduce HIV replication and drug resistance. A cross-sectional study was conducted to measure ARV treatment adherence and and associated factors. Results show that treatment adherence was relative low (60.4%). Female patients were likely to report higher rate of treatment adherence than male patients (OR = 1,6; 95% CI: 1,09 – 3,40). Those who without working far from home were likely to report better treatment adherence than those working far from home (OR = 1,80; 95% CI: 1,21-3,42). Patients who not drinking alcohol and beer were likely to report better treatment adherence than those drinking (OR = 2,57; 95% CI: 1,42- 4,45). Patients receiving support from family membets were likely to report better treatment adherence than those with this support from family members(OR = 7,8; 95%CI: 1,90-63,5). Patients applying reminder method were likely to report higher rate of treatment adherence(OR = 1,50; 95%CI: 1,12-3,12). ARV treatment program need to be more focus on treatment adherence counselling and measures for patients to improve treatment adherence.
Từ khóa:
HIV, AIDS, tuân thủ điều trị ARV
Keywords:
HIV, AIDS, ARV treatment adherence
File nội dung:
o1703194.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
Nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập, Hội Y học Dự phòng Việt Nam tổ chức Hội nghị Khoa học toàn quốc vào tháng 10 năm 2017 tại Đà Nẵng. Kính mời Quý đồng nghiệp đăng ký và nộp báo cáo trình bày tại Hội nghị. Các báo cáo được trình bày tại Hội nghị sẽ được lựa chọn để đăng trên Số Đặc Biệt của Tạp chí Y học Dự phòng năm 2017. (Chi tiết xin click vào hình)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log