Thứ hai, 24/09/2018
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Đánh giá thực trạng công tác y tế trường học ở các trường trung học cơ sở tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang năm 2016
Đánh giá chi phí – hiệu quả của chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HPV trên phụ nữ 15-49 tuổi đã có gia đình tại Thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương
Tình trạng miễn dịch đối với sởi của một số nhóm trẻ em và phụ nữ ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, năm 2013
ads
Trang: 45
Tập 28, số 2 2018

Thực trạng nhiễm viêm gan C và một số yếu tố liên quan ở nhóm tiêm chích ma tuý tại Hà Nội năm 2016

Prevalence and Correlates of Hepatitis C Virus Infection among People Who Inject Drugs (PWIDs) in Hanoi 2016
Tác giả: Đỗ Thị Phượng, Vũ Toàn Thịnh, Văn Đình Hoà, Nguyễn Thuỳ Anh, Lê Minh Giang
Tóm tắt:
Viêm gan C trên người tiêm chích ma túy là một vấn đề sức khoẻ toàn cầu được quan tâm ngày càng nhiều. Tại Việt Nam, ít nghiên cứu tìm hiểu thực trạng nhiễm viên gan C trên nhóm đối tượng này. Điều tra cắt ngang 509 người tiêm chích ma tuý thu nhận tại Hà Nội từ 2015 đến 2017 nhằm tìm hiểu tỷ lệ nhiễm viên gan C trong nhóm tiêm chích ma túy và các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm viêm gan C trong nhóm tiêm chích ma tuý là 62%. Sau khi hiệu chỉnh trong mô hình đa biến, các yếu tố nguy cơ có liên quan tới tình trạng nhiễm VGC bao gồm là nam giới (AOR=5,08, 95%CI:2,96 – 8,72), từng đi tù (AOR=1,63, 95%CI:1,03-2,58), tiêm chích trên 10 năm (AOR=3,43; 95%CI:1,37 – 8,64), quan hệ tình dục có sử dụng bao cao su trong 6 tháng qua (AOR=1,71; 95%CI:1,10 – 2,64), đã từng xét nghiệm viên gan C hoặc HIV (lần lượt OAR=1,87; 95%CI:1,12 – 3,11 và AOR=1,87; 95%CI:1,04 – 3,36). Các yếu tố giảm nguy cơ lây nhiễm bao gồm sống cùng người nhiễm viên gan C (AOR=046; 95%CI:0,25 – 0,85) và sống tại khu vực nội thành (AOR=0,49; 95%CI:0,27 – 0,90). Các chương trình can thiệp phòng, chống lây nhiễm viên gan C cần chú trọng đến đối tượng tiêm chích ma túy và mở rộng các chương trình can thiệp trong các trại giam.
Summary:
HCV infection in PWIDs has been proven as a worldwide public health issue but in Vietnam, few studies were focused on HCV prevalence among this group. This cross-sectional study was conducted in 509 PWIDs in Hanoi from 2015 to 2017 to provide HCV prevalence and its association. Results showed that prevalence of HCV seropositive reached 62%. After adjusted in multivariate models, risk factors included being males (AOR=5.08, 95%CI:2,96 – 8,72), ever incarceration (AOR=1.63, 95%CI:1,03- 2.58), injection duration more than 10 years (AOR=3,43; 95%CI:1,37 – 8,64), condom use in the past 6 months (AOR=1,71; 95%CI:1,10 – 2,64), ever had HCV or HIV testing (AOR=1,87; 95%CI:1,12 – 3,11 và AOR=1,87; 95%CI:1,04 – 3,36 respectively). Protective factors were composed of living with people infected with HCV (AOR=046; 95%CI:0,25 – 0,85) or living in urban settings (AOR=0,49; 95%CI:0,0,27 – 0.90). Intervention program on HCV infection prevention and control should be focused more on PWIDs and expanding intervention programs into prisons
Từ khóa:
Viêm gan C, HIV, tiêm chích ma tuý, yếu tố ảnh hưởng
Keywords:
HCV, PWIDs, HIV, people who inject drugs, associated factors.
File nội dung:
o180245.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
Tạp chí Y học Dự phòng (Hội Y học Dự phòng Việt Nam) phối hợp cùng Báo nhi đồng (Trung ương Đoàn TNCS HCM)tổ chức cuộc thi Học viện Y học nhí - 2018 cho các bé trong độ tuổi 3-12 tuổi. Ban tổ chức mong nhận được sự tham gia ủng hộ của các cá nhân và đơn vị.
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log