Thứ tư, 14/11/2018
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Đánh giá thực trạng công tác y tế trường học ở các trường trung học cơ sở tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang năm 2016
Đánh giá chi phí – hiệu quả của chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HPV trên phụ nữ 15-49 tuổi đã có gia đình tại Thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương
Tình trạng miễn dịch đối với sởi của một số nhóm trẻ em và phụ nữ ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, năm 2013
ads
Trang: 77
Tập 28, số 4 2018

So sánh chiều cao và chỉ số BMI ở hai nhóm tuổi từ 16 – 22 và từ 36 – 42 của một số nhóm dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam năm 2012 – 2013

Comparison of Height, and body mass index between age groups 16 – 22 and 36 – 42 according to ethnic groups living in Vietnam, 2012 – 2013
Tác giả: Dương Tuấn Linh, Vũ Chiến Thắng, Đoàn Trọng Tuyên
Tóm tắt:
Sức khoẻ, tuổi thọ, và các bệnh lí có liên quan chặt chẽ tới chiều cao và chỉ số khối lượng cơ thể. Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng về chiều cao, và thể chất của người Việt Nam được quan tâm rất nhiều trong chính sách y tế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang về các chỉ số chiều cao và cân nặng ở hai nhóm tuổi từ 16 – 22 và 36 – 42 đã được thực hiện ở một số dân tộc sinh sống ở các tỉnh/thành trong cả nước, năm 2012. Kết quả cho thấy cả hai giới nam và nữ đều có sự tăng trưởng chiều cao trung bình giữa thanh niên và trung niên, lần lượt là 164,8 cm so với 163,1 cm ở nam giới, và 154,6 cm so với 153,4 cm ở nữ giới. Chiều cao trung bình có sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc khác nhau, ở nam giới cao nhất ở dân tộc Nùng (166,7 cm) và thấp nhất ở dân tộc H’Lăng (156,7 cm); ở nữ giới cao nhất ở dân tộc Khơ me (156,3 cm) và thấp nhất ở dân tộc Tà Ôi (148,5 cm). Chỉ số khối lượng cơ thể ở nhóm điều tra cho thấy tình trạng thiếu cân, thừa cân, và béo phì lần lượt chiếm 18,7%, 6,13%, và 0,71%. Chỉ số khối lượng cơ thể cũng phản ánh tình trạng thiếu cân ở người Việt Nam vẫn ở mức độ cao.
Summary:
Many recent studies show secular height and body mass index associate with health, life expectancy, and both communicable and non- hand, means of height also differed from ethnic groups. The tallest means in man and women according to ethnic groups were Nung (166,7 communicable diseases. Secular trend height, cm), and Khmer (156,3 cm), respectively. body mass index and physical strength in Vietnamese populations are the top of concerns in national policies of public health. Using crosssection study method, we surveyed heights and weights of two age groups 16 – 22 and 36 – 42 regarding to various ethnic groups who lived in several cities and provinces in Vietnam, 2012. The results show secular trends in height was occurred. Secular means of height in malemiddle versus male-youth ages, and femalemiddle versus female-youth ages were 163,1 cm, 164,8 cm, 153,4 cm, and 154,6 cm, respectively. Comparisons of these secular means of height presented statistically significant. On the other While the shortest means in man and women according to ethnic groups were H’Lang (156,7 cm) and TaOi (148,5 cm), respectively. The differences were statistic significant. Ratios of body mass index show underweight, overweight, and obesity situations were 18.7%, 6.13%, and 0.71%, respectively. Secular height in Vietnamese populations was increased, but slower than that in neighbor countries. The result of body mass index also reflected of malnutrition in these populations.
Từ khóa:
Chiều cao, chỉ số khối lượng cơ thể, BMI, dân tộc
Keywords:
Secular height, body mass index, ethnic groups
File nội dung:
o180477.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
Tạp chí Y học Dự phòng (Hội Y học Dự phòng Việt Nam) phối hợp cùng Báo nhi đồng (Trung ương Đoàn TNCS HCM)tổ chức cuộc thi Học viện Y học nhí - 2018 cho các bé trong độ tuổi 3-12 tuổi. Ban tổ chức mong nhận được sự tham gia ủng hộ của các cá nhân và đơn vị.
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log