Thứ tư, 01/02/2023
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường và các yếu tố liên quan tại tỉnh Bình Dương
Kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ có con 7 - 12 tháng tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 2022
Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của người cao tuổi tại Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Trang: 87
Tập 32, số 8 2022 Phụ bản

XU HƯỚNG NHIỄM HIV VÀ GIANG MAI Ở PHỤ NỮ BÁN DÂM TẠI VIỆT NAM QUA GIÁM SÁT TRỌNG ĐIỂM LỒNG GHÉP HÀNH VI, GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

TRENDS OF HIV AND SYPHILIS INFECTION AMONG FEMALE SEX WORKERS IN VIETNAM THROUGH HIV SENTINEL SURVEILLANCE PLUS BEHAVIORS DURING THE 2015 – 2020 PERIOD
Tác giả: Nguyễn Đình Lượng, Nguyễn Thành Đông, Trương Gia Linh, Nguyễn Hoàng Minh, Lâm Chi Cường, Đặng Thị Lơ, Lê Văn Đài, Hoàng Tiến Thanh, Nguyễn Việt Nga, Võ Hải Sơn, Đỗ Thái Hùng
Tóm tắt:
Các nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện qua giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi nhằm xác định xu hướng nhiễm HIV, giang mai, các hành vi nguy cơ và tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS ở phụ nữ bán dâm (PNBD) giai đoạn 2015 - 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD tương đối thấp và dao động ổn định từ 2,6% - 2,7% - 3,3% - 3,6% - 3,1% lần lượt ở các năm 2015 - 2016 - 2017 - 2018 - 2020. Tương tự, tỷ lệ nhiễm giang mai cũng ở mức thấp, dao động từ 0,7% - 2,6% trong giai đoạn này. Các tỷ lệ sử dụng bao cao su (trong lần quan hệ tình dục gần nhất, với khách quen, với khách lạ), tiếp cận các dịch vụ giảm hại (nhận BCS miễn phí, tư vấn QHTD an toàn) có sự gia tăng qua các năm nhưng chưa cao. Tuy nhiên, tỷ lệ được làm xét nghiệm HIV trong vòng 12 tháng và khám các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục trong vòng 3 tháng chưa cao, chỉ đạt lần lượt là 39,8% và 34,2% năm 2020. Vì vậy, các chương trình can thiệp cần xem xét mở rộng và đa dạng hóa mô hình xét nghiệm HIV tại cộng đồng, tăng cường độ bao phủ của chương trình giảm tác hại để giảm tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD và hướng tới kết thúc dịch HIV tại Việt Nam năm 2030.
Summary:
Cross - sectional studies were conducted through HIV sentinel surveillance plus behaviors to explore trends in HIV and syphilis infection, high - risk behaviors, and access to HIV/AIDS harm reduction services among female sex workers (FSWs) during the 2015 - 2020 period. Results showed that the HIV prevalence among FSWs was relatively low and fluctuated stably from 2.6% - 2.7% - 3.3% - 3.6% - 3.1% in 2015 - 2016 - 2017 - 2018 - 2020, respectively. Similarly, the prevalence of syphilis infection was also low, ranging from 0.7% to 2.6% during this period. The proportions of using condoms (in the last sex, with regular customers, with strangers), and accessing harm reduction services (receiving free condoms, and safe sex counseling) tend to increase over the years but were still not high. In addition, the proportions of being tested for HIV within 12 months and checking for sexually transmitted diseases within 3 months were low, only 39.8% and 34.2% in 2020, respectively. Therefore, intervention programs should consider expanding and diversifying HIV testing models in the community, and increasing the coverage of harm reduction programs to reduce the HIV prevalence among FSWs and towards ending the HIV epidemic in Vietnam by 2030.
Từ khóa:
HIV/AIDS; giang mai; phụ nữ bán dâm; bao cao su
Keywords:
HIV/AIDS; syphilis; female sex workers; condom
DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2022/890
File nội dung:
o220887.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
CHÚC MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, xin kính chúc các đồng nghiệp, chuyên gia bình duyệt và thành viên Ban Biên tập mạnh khỏe, thành công và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Báo chí. GS.TS Đặng Đức Anh (Tổng Biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log