Thứ bảy, 02/03/2024
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Khảo sát sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2022
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên tại 03 xã Nà Nghịu, Chiềng Khoong và Chiềng Khương huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La năm 2022
Hiệu quả bổ sung sản phẩm dinh dưỡng lên tình trạng dinh dưỡng và thiếu kẽm ở học sinh suy dinh dưỡng thấp còi và có nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi tại một số trường tiểu học huyện Cẩm Thủy, tỉnh
Trang: 371
Tập 33, số 6 2023 Phụ bản

AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG LỰA CHỌN SẢN PHẨM NƯỚC ĐÁ: CÁCH TIẾP CẬN TỪ CƠ SỞ SẢN XUẤT ĐẾN NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

FOOD SAFETY IN CHOOSING EDIBLE ICE PRODUCTS: AN APPROACH FROM MANUFACTURERS TO CONSUMERS IN BINH DUONG PROVINCE
Tác giả: Dư Nguyễn Đại Nam, Trần Minh Hoàng, Nguyễn Bá Thanh
Tóm tắt:
Một nghiên cứu cắt ngang tại tỉnh Bình Dương năm 2021, trên 38 cơ sở sản xuất nước đá, 455 cơ sở kinh doanh nước đá (phương pháp ngẫu nhiên hệ thống) và 910 người tiêu dùng (lấy mẫu thuận tiện). Chỉ 50% cơ sở sản xuất và 45,5% cơ sở kinh doanh nước đá đạt đủ điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP). Tỉ lệ kiến thức đúng về ATTP ở người sản xuất (31,8%), người kinh doanh (9,5%) và người tiêu dùng (6,9%) là thấp. Có mối liên quan giữa điều kiện ATTP của cơ sở sản xuất với kiến thức của người sản xuất (PR = 2,5; KTC 95% (1,4 - 4,3); p = 0,007). Mối liên quan giữa kiến thức của chủ cơ sở kinh doanh với điều kiện ATTP cơ sở (PR = 1,8; KTC95% (1,4 - 2,2); p < 0,001). Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa thực tiễn và kiến thức về an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng và là một hệ thống kết nối giữa người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng nước đá. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nước đá thì cần cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm trong khi đó người tiêu dùng nước đá cần trang bị kiến thức về an toàn thực phẩm nước đá.
Summary:
A cross - sectional study was conducted in Binh Duong province in 2021, involving 38 ice production facilities, 455 ice business establishments (using a systematic random sampling method), and 910 consumers (convenience sample). Results showed that only 50% of ice production facilities and 45.5% of ice business establishments met the food safety conditions. The correct knowledge rates regarding food safety were low among producers (31.8%), business owners (9.5%), and consumers (6.9%). There was a correlation between the food safety conditions of production facilities and the knowledge of producers (PR = 2.5; 95% CI (1.4 - 4.3); p = 0.007). Additionally, a positive correlation was observed between the knowledge of business owners and the food safety conditions of the facilities (PR = 1.8; 95% CI (1.4 - 2.2); p < 0.001). The study results demonstrated the significant role and interconnection of practical experience and knowledge of food safety among ice producers, business owners, and consumers. Production and business facilities need to enhance their food safety conditions, while ice consumers should be equipped with knowledge about ice food safety.
Từ khóa:
An toàn thực phẩm; kiến thức; cơ sở sản xuất; kinh doanh nước đá; người tiêu dùng
Keywords:
Food safety and hygiene; knowledge/ awareness; ice manufacturers/ makers; ice retailers/businesses; consumers
DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2023/1440
File nội dung:
o2306371.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
THƯ CHÚC MỪNG 98 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/06/2023). Kính chúc các anh, các chị và các bạn đồng nghiệp thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui. Hy vọng các đồng chí luôn giữ vững ngòi bút, lập trường và sự khách quan, trung thực của mình để góp phần phát triển nền báo chí nước nhà. GS. TS Đặng Đức Anh (Tổng biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log