Thứ sáu, 19/08/2022
 NămSố
 Từ khóa
 Tác giả
Tìm thông tin khác
Phân bố tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện và kháng kháng sinh của một số vi khuẩn tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều, năm 2018 - 2020
Thực trạng xử lý chất thải nguy hại tại hộ gia đình của người dân thành phố Huế năm 2020
Đánh giá nguy cơ lây nhiễm SARS-COV-2 tại hộ gia đình của ba tỉnh khu vực miền Trung năm 2021
Trang: 105
Tập 32, số 5 2022

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VÀ BIẾN CHỨNG SAU ĐẶT SONDE NIỆU ĐẠO – BÀNG QUANG Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TẠI BỆNH VIỆN VIỆT TIỆP, HẢI PHÒNG 2021

CURRENT SITUATION OF URETHRAL - BLADDER CATHETER CARE IN PATIENTS WITH POST LAPAROSCOPIC SURGERY FOR BENIGN PROSTATIC HYPERPLASIA AT VIET TIEP HOSPITAL, HAI PHONG CITY IN 2021
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương, Phạm Thị Thu Hương, Đỗ Thị Lan Anh
Tóm tắt:
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả thực trạng chăm sóc sonde niệu đạo bàng quang ở người bệnh sau phẫu thuật nội soi tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt tại khoa Ngoại Thận – Tiết niệu, Bệnh viện Việt Tiệp năm 2021. Nghiên cứu mô tả cắt ngang với tổng số 78 người bệnh được thu thập. Kết quả cho thấy, trong số 78 người bệnh sau phẫu thuật nội soi tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt có tới 50,8% người bệnh ở độ tuổi 71 - 80. Nguyên nhân chủ yếu đặt lại thông/thay sonde do máu cục gây tắc ống chiếm tỉ lệ cao nhất 74,3%. Số người bệnh phải bơm rửa sonde niệu đạo bàng quang ít nhất 1 lần chiếm tỉ lệ cao nhất 39,7%. Thời gian lưu và rút sonde theo quy định chỉ chiếm khoảng 23%, trong khi đó thời gian lưu sonde 8 - 10 ngày là phổ biến chiếm tỷ lệ khoảng 60%. Người bệnh xuất hiện biến chứng có đái buốt/đái rắt là phổ biến nhất sau rút sonde chiếm tỉ lệ 35,8%. Có mối liên quan giữa biến chứng sau rút sonde và thời gian lưu sonde với p < 0,05.
Summary:
This study aims to evaluate the situation of urethral bladder catheterization in patients with post laparoscopic surgery for benign prostatic hyperplasia at the Department of Nephrology and Urology, Viet Tiep Hospital in 2021. A cross - sectional study design was used. All of 78 patients who met the study inclusion criteria were collected. The results showed that over 50% of patients are aged of 71 - 80 after laparoscopic surgery for benign prostatic hyperplasia. The main cause of catheterization is blood clots. Pipe blockage accounted for the highest rate of 74.3%. The number of patients having to clean the urethral and bladder catheter at least once accounted for the highest rate of 39.7%. The prescribed retention and withdrawal time of sonde only accounts for about 23%, while the retention time of 8 - 10 days is common, accounting for about 60%. Patients with complications with dysuria were the most common after catheter removal, accounting for 35.8%. There was a relationship between complications after catheter removal and catheter retention time with p < 0.05.
Từ khóa:
Sonde niệu đạo – bàng quang; chăm sóc; tuyến tiền liệt
Keywords:
Urethral - bladder catheter; care; prostate
DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2022/754
File nội dung:
o2205105.pdf
Tải file:
Tải file với tiền ảo trong tài khoản thành viên.
Thông tin trong cùng số xuất bản:
CHÚC MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Nhân ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, xin kính chúc các đồng nghiệp, chuyên gia bình duyệt và thành viên Ban Biên tập mạnh khỏe, thành công và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Báo chí. GS.TS Đặng Đức Anh (Tổng Biên tập Tạp chí Y học dự phòng)
Website www.tapchiyhocduphong.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log